Nhân cách của người thầy là sức mạnh to lớn có ảnh hưởng đến học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kì câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ hệ thống khen thưởng trách phạt nào khác "

Ngày 17 tháng 10 năm 2017

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tin tức

Tin tức

Cập nhật lúc : 12:27 16/11/2015  

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: VẬN DỤNG KIẾN THỨC VĂN HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 12, BÀI 18 - NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1950)


Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học của ngành, những năm vừa qua giáo viên trường THPT Cao Thắng đã tích cực đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học trong đó có bộ môn Lịch sử. Mục tiêu của một nền giáo dục tiên tiến là đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, thực sự là nguồn nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trường học là nơi mang đến và nuôi dưỡng cho người học niềm đam mê học tập, khát khao chinh phục đỉnh cao của tri thức. Một trong những phương pháp để tích cực hóa hoạt động dạy và học đó là việc dạy học vận dụng kiến thức nhiều môn.. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc dạy học nói chung và môn Lịch sử nói riêng. Việc vận dụng kiến thức văn học trong dạy học lịch sử sẽ góp phần bổ sung kiến thức cho bài học, giúp học sinh hứng thú, say mê, yêu thích học môn Lịch sử, làm dịu đi sự khô khan của những con số, sự kiện để từ đó nâng cao hiệu quả chất lượng của việc dạy và việc học. Người giáo viên giảng dạy môn Lịch sử thực hiện nhiệm vụ “dựng người chết dậy vì người còn sống”, do đó dạy và học môn sử không chỉ đòi hỏi niềm đam mê, sự tận tụy mà ở đó còn là tinh thần trách nhiệm, là lương tâm nghề nghiệp nhà giáo. Để cung cấp cho các thầy cô tham khảo, nhất là các em học sinh có một góc nhìn, một cách tiếp cận khác trong giảng dạy và học tập môn sử, tác giả chỉ xin giới thiệu, dù không mới về hướng khai thác sự kiện lịch sử thông qua vận dụng những tư liệu văn học mà trong tầm nhìn hạn hẹp của mình đã cố gắng sưu tầm và chắt lọc. Tác giả không có ý tranh luận cũng không phải nghiên cứu chuyên sâu mà chỉ ao ước các em học sinh trong trường sẽ đọc và suy ngẫm để làm phong phú thêm kiến thức văn-sử của mình.

Bài 18. NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1950)

Phần I. Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ

Các em khi học về phần này, ngoài việc sử dụng tư liệu “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trong đêm 19/12/1946 (đã được trình bày cụ thể trong sách giáo khoa) có thể tham khảo bài thơ “Thơ chúc tết xuân Đinh Hợi - 1947” của Người:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! tiến lên đồng bào!

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!”

Ngay từ đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, khi toàn dân ra trận, chúng ta có một niềm tin tất yếu, đó là cuộc kháng chiến sẽ giành thắng lợi, “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Thống nhất độc lập, nhất định thành công”. Bài thơ của Bác càng khẳng định thêm cuộc kháng chiến của chúng ta là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện “toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”, đó còn là cuộc chiến đấu chính nghĩa bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, tất nhiên sự đoàn kết, cố kết trở thành một sợi chỉ đỏ xuyên suốt như chảy trong từng huyết quản của mỗi người con dân đất Việt “chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng”. Những câu thơ trên là lời hiệu triệu, như bản anh hùng ca vang vọng mãi ngàn năm, là khí phách Việt Nam, như là lời thề “Sát Thát” mà thời quân dân nhà Trần quyết tâm giết giặc Mông-Nguyên.

Ngoài ra, học sinh cũng có thể phân tích, vận dụng những hình ảnh quê hương trong bài thơ “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi viết năm 1948. Bài thơ này nói về sự trường tồn của đất nước và tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam.

...“Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

***

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng

Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng

Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh

 

Súng nổ rung trời giận dữ.

Người lên như nước vỡ bờ.

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

Bài thơ như là lời tuyên bố hùng hồn và dõng dạc về quê hương đất mẹ Việt Nam từ trong những ngày gian khổ và khó khăn, vẫn bừng lên một khí thế oai hùng, vươn vai đứng dậy “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”

Phần II - Cuộc kháng chiến ở các đô thị bắc vĩ tuyến 16.

Phần III - Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947

Khi nói về chiến tranh du kích trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến trên chiến trường Việt Bắc, học sinh cần lưu ý về chiến thuật chiến tranh du kích. Trong cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, chiến tranh du kích là một nghệ thuật quân sự độc đáo và sáng suốt của Đảng ta dựa trên cơ sở khoa học đúng đắn. Đây cũng là biểu hiện sinh động của truyền thống “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” của ông cha trong lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Phần đối thoại giữa Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho chúng ta cách đánh giá nhận định sâu sắc hơn về nghệ thuật chiến tranh du kích.

“Bác nói: “Phân tán một bộ phận chủ lực để phát động chiến tranh du kích là rất cần. Không chỉ đưa đại đội vào địch hậu mà đưa cả về những địa phương nay mai chiến sự sẽ lan tới”.

Xin đề nghị với Bác một công thức về tổ chức bộ đội chủ lực ta trong thời gian trước là: “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, có nghĩa là đưa từng đại đội về từng địa phương, phát động nhân dân tiến hành chiến tranh du kích, và bố trí từng tiểu đoàn trên từng khu vực cần thiết phục kích, tập kích đánh những đồn địch nhỏ để thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Trong thời gian trước mắt ta kiên quyết thực hiện “du kích vận động chiến”. Công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” là phù hợp với tình hình hiện nay. Số lượng các đại đội đưa về địa phương do Thường vụ quyết định. Sau khi Thường vụ nhất trí cần thực hiện ngay”. (Trích tác phẩm Không phải huyền thoại của tác giả Hữu Mai)

Người học trong khi tìm hiểu về cách đánh của ta trong chiến thắng Việt Bắc 1947 có thể tham khảo thêm tư liệu về những nhận định của đại tướng Võ Nguyên Giáp:

“Cuộc tiến công Việt Bắc lần này, địch hành binh táo bạo bằng quân nhảy dù chiếm đóng ngay hậu phương ta làm tình hình chiến sự thay đổi. Về chiến lược hiện nay không có phân biệt giữa tiền phương với hậu phương, vì sự cần thiết phát động chiến tranh du kích rộng rãi nên kế hoạch bố trí và tác chiến phải thích hợp với tình thế. Thực hiện ngay việc lấy đại đội đơn vị bố trí trên các chiến trường địa phương. Bộ đội chủ lực thì phải đặt ở những nơi cơ động, gần mặt trận hoặc trên các đường giao thông quan trọng và nguyên tắc là nên tập trung từng tiểu đoàn phụ trách từng đơn vị một.

Nhiệm vụ của đại đội độc lập là quấy rối, tiêu diệt từng bộ phận nhỏ của địch, đôn đốc phá hoại trong từng địa phương, giúp đỡ vũ trang tuyên truyền với đơn vị tác chiến và dân quân trong địa phương mình khi địch đến. Phối hợp với bộ đội lưu động đánh những trận lớn.

Nhiệm vụ của tiểu đoàn tập trung: Phối hợp với các đại đội độc lập và du kích địa phương tiêu diệt địch ở những vị trí lẻ hay khi đang vận động trên đường giao thông”.

Các em cần lưu ý thêm khi nói ý nghĩa của thắng lợi chiến dịch này, cũng có thể sử dụng bài thơ “Cá nước” của nhà thơ Tố Hữu.

...“Anh kể chuyện tôi nghe

Trận chợ Đồn, chợ Rã

Ta đánh giặc chạy re

Hai đứa cười ha hả.

 

Rồi Bông Lau, Ỷ La

Ba trăm thằng tan xác,

Cành cây móc thịt da

Thối inh rừng Việt Bắc.

 

Tàu giặc đắm sông Lô

Tha hồ mà uống nước

Máu tanh đến bây giờ

Chưa tan mùi bữa trước”...

Phần IV - Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch Biên giới thu đông 1950

Về chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới 1950, chọn địa điểm đầu tiên để tiến đánh thực dân Pháp, chúng ta có thể sử dụng đoạn trích trong tác phẩm “Không phải huyền thoại”. Cùng tìm hiểu vì sao chúng ta chọn Đông Khê làm trận mở màn cho cuộc tiến công (chứ không phải là Cao Bằng như kế hoạch ban đầu).

“Trước đây, ta dự kiến bao vây Cao Bằng nhằm thu hút chủ lực quân viện địch lên để tiêu diệt, nhưng bây giờ anh nhận thấy ít có khả năng địch đưa quân viện lên theo đường bộ, vì quãng đường Thất Khê – Cao Bằng từ lâu đã trở thành quá nguy hiểm với quân địch. Như vậy, trong trường hợp Cao Bằng bị uy hiếp mạnh, có nhiều khả năng địch sẽ phải hy sinh đội quân đồn trú tại đây, và rút những lực lượng ở Đông Khê, Thất Khê về Lạng Sơn một cách an toàn trong khi hầu hết chủ lực của ta còn nằm ở Cao Bằng.

Anh nhận thấy cách mở đầu chiến dịch tốt nhất vẫn là đánh Đông Khê. Cứ điểm Đông Khê mặc dù đã được củng cố sau trận đánh tháng 5 nhưng vẫn nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Mất Đông Khê hoặc địch phải chiếm lại, hoặc sẽ phải rút khỏi Cao Bằng. Ta sẽ có điều kiện tiêu diệt ngoài công sự. Nếu địch không chiếm lại Đông Khê, ta sẽ đánh tiếp Thất Khê. Cuối cùng, ta sẽ chấn chỉnh lực lượng quay lại tiêu diệt Cao Bằng. Khi mất cả Đông Khê, Thất Khê, tình hình quân địch ở Cao Bằng sẽ khác. Và cũng không nhất thiết phải tiêu diệt Cao Bằng bằng một trận công kiên, mà có thể bao vây buộc quân địch phải đầu hàng.”

Trận đánh Đông Khê, giáo viên tường thuật từ trong đoạn trích trong tác phẩm "Không phải huyền thoại":

“ 6 giờ sáng ngày 16 tháng 9, một loạt pháo 75 ly của ta nổ giòn báo hiệu mở màn chiến dịch. Pháo ta bắn trúng các mục tiêu. Quân địch bị bất ngờ, đối phó rất lúng túng. Trận đánh kéo dài đến 10 giờ ngày 18 tháng 9 năm 1950 mới kết thúc.”

Chúng ta có thể sử dụng tư liệu về Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Cừ  khi giảng về trận đánh Đông Khê.

Đến 17 tháng 9 bắt đầu trận tiến công lần thứ hai; Trong trận này Anh làm đại đội trưởng, đại đội 336 là lực lượng chủ công của trung đoàn, Anh đã chỉ huy đơn vị đánh thẳng vào hầm chỉ huy của địch. Hoả lực địch bắn dữ dội, hòng chặn đứng các mũi tiến công của ta. Trần Cừ bình tĩnh chỉ huy đại đội vượt qua làn mưa đạn, chiếm khu vực Kỳ Sấu rồi đánh tỏa lên khu nhà thương. Địch rút xuống hầm cố thủ và ném lựu đạn như mưa ra ngoài. Dưới sự chi viện của hoả lực, bộ đội ta khẩn trương vận động áp sát vào lô cốt địch, dùng bộc phá diệt địch. Lúc xông lên, Trần Cừ bị thương nặng vào chân. Trời sắp sáng, chiến sĩ ta xung phong mấy lần vẫn chưa diệt được đồn địch. Trong đồn địch còn khoảng 100 tên, Anh cầm lựu đạn hô anh em cùng ném vào lỗ châu mai. Khói toả mù mịt, lợi dụng thời cơ tốt, Trần Cừ hô lớn: “Hồ Chủ tịch muôn năm, Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm”, rồi vùng lên ném quả thủ pháo cuối cùng vào lỗ châu mai và dùng cả thân mình bịt kín lỗ châu mai, hỏa điểm của địch bị tiêu diệt. Chiến sỹ ta ào lên, dùng bộc phá đánh sập lô cốt cố thủ của địch, trận Đông Khê thắng lợi. Noi gương đại đội trưởng Trần Cừ, các chiến sỹ đại đội 336 đã dồn ý chí quyết tâm vào những trận chiến đấu tiêu diệt địch trên đường số 4, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của chiến dịch Biên giới.

Học sinh cũng nên sử dụng tư liệu về anh hùng lực lượng vũ trang La Văn Cầu trong khi tìm hiểu về trần đánh Đông Khê. Sử dụng phần tâm sự của đồng chí nói chuyện: “Băng bó xong, tôi ôm quả bộc phá tiến sát đến lô cốt, đặt quả bộc phá vào lỗ châu mai. Quả bộc phá có 2 kíp, nguyên lý giật kíp 1 không nổ thì giật kíp 2 nhưng lúc đó sắp phá được lô cốt địch tôi sướng quá giật luôn cả 2 kíp rồi quay lại lăn xuống dốc thì quả bộc phá nổ, đẩy tôi bắn ra xa, rơi từ trên cao úp mặt xuống đất và ngất đi”

Chúng ta nên tham khảo thêm bài thơ “Đăng Sơn”(Lên núi) của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người cùng lên trận địa động viên bộ đội ta chiến đấu.

“Chống gậy lên non xem trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.

            Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã trải qua và gặp vô vàn những khó khăn. Những khó khăn đó đến từ cả bên trong lẫn bên ngoài; kẻ thù xâm lược hung bạo, có sức mạnh quân sự ghê gớm với đội quân xâm lược nhà nghề đã từng kinh qua nhiều trận mạc… Nhưng hơn lúc nào hết và vượt lên tất cả, đó là truyền thống đấu tranh bất khuất, lòng yêu nước nồng nàn được hun đúc qua hàng nghìn năm và phát triển đến đỉnh cao dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước đưa cuộc kháng chiến phát triển lê một tầm cao mới, với thế và lực mới. Tìm hiểu, giới thiệu và chia sẻ những cảm xúc của bậc hậu bối đối với những mốc son lịch sử mà các thế hệ đi trước đã dựng nên, âu đó cũng là việc đáng làm của tất cả chúng ta ngày nay./.

(còn tiếp)
GV. Võ Thanh Bắc 

Số lượt xem : 253

Chưa có bình luận nào cho bài viết này



Các tin khác